Banner Top

Thiếu tướng Đào Văn Tân - Chính ủy Binh đoàn 12 (Bộ Quốc phòng): Nhớ một thời hoa lửa

Những ngày xông pha lửa đạn

Tiếp chúng tôi tại trụ sở Binh đoàn đóng trên địa bàn quận Thanh Xuân (Hà Nội), Thiếu tướng Đào Văn Tân trẻ hơn nhiều so với tuổi 57 của mình. Sự chân thành, vui vẻ và mến khách của ông khiến chúng tôi không có khoảng cách chủ khách và câu chuyện về quê hương, về một thời bom rơi lửa đạn, về những người đồng chí đồng đội cứ thế hiện về.

Quê ông ở xóm Càn, xã Hương Sơn, huyện Lạng Giang. Xa quê đến nay vừa tròn 40 năm nhưng địa danh xóm Càn vẫn thắc thỏm trong ông. Ông bảo, có lẽ ngày xưa địch về càn nhiều hay vì một lý do nào khác mà bà con gọi là xóm Càn; chỉ biết rằng, tuổi thơ ông lớn lên và được chứng kiến bao lớp trai làng sục sôi lên đường ra trận. Khí thế ấy đã hun đúc trong ông một tinh thần yêu nước và một niềm ước mong, sẽ có một ngày được tòng quân giết giặc. Năm 1972, khi đang học năm đầu tiên của cấp ba (THPT bây giờ), hàng ngày đi bộ 7 km từ nhà tới trường qua sân bay Kép trong tiếng gầm thét của máy bay Mỹ, ông đã giấu gia đình viết đơn ra trận. Nhiệt huyết của người thanh niên trẻ được chấp nhận. Năm ấy, ông mới 17 tuổi. Sau sáu tháng huấn luyện ở miền Bắc, cuối năm 1972, ông được biên chế vào Sư đoàn 316 sang chiến đấu giúp nước bạn Lào. Khi Hiệp định Viêng Chăn được ký kết, ông về nước và được bổ nhiệm làm tiểu đội trưởng, trung đội trưởng tham gia chiến đấu ở chiến trường Tây Nguyên, giải phóng Buôn Ma Thuột. Trong những ngày xông pha lửa đạn, cận kề giữa sự sống và cái chết, chiến sĩ trẻ Đào Văn Tân ngày ấy đã khẳng định sự gan dạ, mưu trí, dũng cảm của mình qua từng trận đánh và vinh dự được đứng trong hàng ngũ của Đảng khi mới 19 tuổi.

Kỷ vật thiêng liêng và vết thương để lại

Cho đến tận bây giờ, khi chiến tranh đã lùi xa, sống giữa thủ đô ồn ào, tấp nập nhưng chưa lúc nào, ông không nguôi nhớ về đồng đội cũ, về những kỷ vật thiêng liêng và cả những trận đánh, những vết thương vẫn mang bên mình. Ông kể lại: Ngày 21 tháng 4 năm 1975, trong trận đánh Ấp Bầu (tỉnh Tây Ninh), 5/26 đồng đội của ông đã ngã xuống. Tương quan lực lượng giữa ta và địch quá chênh lệch, chúng có cả trung đoàn còn ta có trung đội. Trong trận này, khi đang cùng đồng đội xông lên chiến đấu với địch, ông bị một viên đạn của quân thù bắn vào ngực trái. Lúc đó, tình thế không cho phép ông dừng bước và ông tâm sự thật là không hiểu sao, khi ấy ông không có cảm giác đau, chỉ đến khi máu ra nhiều, ông ngất đi và tỉnh dậy lại tiếp tục chiến đấu, đến ngày hôm sau ông mới ra bệnh xá điều trị. Ở trận này, trung đội do ông trực tiếp chỉ huy đã tiêu diệt được một xe tăng, một khẩu 12 ly 8, một khẩu đại liên và một số bộ binh của địch. Sau trận này, ông được trao bằng dũng sĩ cấp 2 và Huân chương Chiến công hạng Nhì.

Kể lại chuyện chiến trường, ông bảo, với ông, vết thương năm nào tuy đau, giờ ông vẫn phải "sống chung" với viên đạn còn nằm lại trong ngực nhưng nó không đau bằng những người đồng đội, chiến sĩ của ông đã mãi mãi ngã xuống. Người tiểu đội trưởng cấp dưới của ông tối hôm trước vẫn rủ rỉ bên tai ông, nhờ ông cất giữ chiếc bàn cạo râu để anh em "làm duyên" nơi chiến trường vậy mà trong trận chiến đấu sáng hôm sau, đồng chí đã trút hơi thở cuối cùng. Chiếc bàn cạo râu được ông cất giữ thiêng liêng từ ngày đó, theo ông đi khắp các chiến trường. Sau chiến tranh, rất nhiều lần, ông tìm về quê hương, gia đình người tiểu đội trưởng ấy nhưng đều vô vọng bởi thông tin quá ít ỏi. Ông chỉ biết anh tên là Phạm Hồng Thái, quê ở tỉnh Hà Nam Ninh (cũ), kém ông một tuổi và chưa xây dựng gia đình. Tình đồng chí đồng đội vào sinh ra tử khiến ông không thể không tìm về quê người liệt sĩ đó và để "trả lại" anh chiếc bàn cạo râu. Qua anh em đồng đội và phải nhờ đến cả sự tra cứu, hỗ trợ tích cực của Ban Chính sách (Quân khu II), năm vừa qua, ông đã tìm về đúng quê của liệt sĩ Phạm Hồng Thái (nay là xã Giao Xuân, huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định) và trang trọng trao cho gia đình, vong linh đồng đội cũ chiếc bàn cạo râu ông giữ đã 36 năm trời. Em trai liệt sĩ nghẹn ngào nắm tay ông mà nói: "Đây là kỷ vật duy nhất mà anh trai tôi để lại và được các anh cất giữ cẩn thận suốt những năm qua. Nó thật sự thiêng liêng và quý giá với gia đình, dòng họ. Tôi còn thì tôi giữ, tôi không còn thì các con, các cháu tôi sẽ giữ kỷ vật đó". Kể lại chuyện mà chúng tôi thấy ông rưng rưng xúc động, mắt nhoè đi…

Vững vàng trên trận tuyến mới

Sau ngày giải phóng miền Nam, đơn vị ông đóng quân ở huyện Bến Cát (tỉnh Bình Dương) rồi chuyển sang Yên Bái, Lào Cai phục vụ nhiệm vụ quân sự- quốc phòng. Thời gian tiếp theo, ông theo học và được giữ lại Trường Quân chính (Quân khu I) làm cán bộ nhà trường. Sau đó, ông được điều động về công tác tại Quân khu I; tiếp tục đi học nâng cao kiến thức ở Học viện Chính trị Quân sự và được bổ nhiệm làm Phó Chỉ huy Chính trị Trung đoàn, Phó trưởng phòng cán bộ Quân khu I và Phó Chủ nhiệm Chính trị Bộ CHQS tỉnh Thái Nguyên. Ông có bốn năm (từ năm 2002 đến năm 2006) làm Thư ký Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Từ cuối năm 2006, ông làm Phó Chính uỷ Binh đoàn kiêm Phó Tổng Giám đốc Tổng Công ty Xây dựng Trường Sơn và từ tháng 12 năm 2009 đến nay, là Bí thư Đảng uỷ, Chính uỷ Binh đoàn 12. Ông được phong quân hàm Thiếu tướng năm 2010.

Là Chính uỷ Binh đoàn 12 với nhiệm vụ phát triển kinh tế kết hợp với củng cố quốc phòng trên cơ sở lực lượng chủ yếu của Bộ đội Trường Sơn, ông không khỏi có những băn khoăn, trăn trở. Phải làm gì để phát huy truyền thống, xứng danh Bộ đội Trường Sơn mà vẫn nhanh nhạy, hiệu quả và chất lượng trong nhiệm vụ phát triển kinh tế, xây dựng cơ bản. Ông đã cùng lãnh đạo, chỉ huy Binh đoàn kiên định mục tiêu là dù làm gì thì làm, dù có khó khăn hay thuận lợi thì vẫn phải làm đâu chắc đấy và giữ vững thương hiệu Bộ đội Trường Sơn. Chính vì thế, từ khi thành lập (năm 1977) đến nay, dấu chân của những người lính, những cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn 12 đã có mặt ở hầu khắp các công trình trọng điểm của đất nước như: Thuỷ điện Hoà Bình, Thuỷ điện Yaly, Thuỷ điện sông Hinh, Thuỷ điện Sơn La, Thuỷ điện Buôn Kuốp, Buôn Tua Srah, Sêrêpóp 3 (Đắc Lắc); xây dựng một loạt các nghĩa trang liệt sĩ: Trường Sơn, Hàng Dương- Côn Đảo, Điện Biên; thi công đường dây 500 kV Bắc Nam, quốc lộ 1A, quốc lộ 5, quốc lộ 6, quốc lộ 18, đường Hồ Chí Minh, đường cao tốc Thăng Long - Nội Bài, đường cao tốc Nội Bài - Bắc Ninh... Uy tín, thương hiệu của Binh đoàn ngày càng được mở rộng, khẳng định và nâng cao không chỉ với các công trình trọng điểm của đất nước mà còn với cả các nước bạn Lào, Cam pu chia và gần đây nhất, ông vừa tiếp một tập đoàn kinh tế lớn của Nhật Bản đến tìm hiểu, hợp tác xây dựng. Với những thành tích xuất sắc đó, Binh đoàn 12 đã được tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhất, hạng Nhì; nhiều tập thể, cá nhân được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang, Anh hùng Lao động. Bản thân ông được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất và Huân chương Quân kỳ Quyết thắng cùng nhiều phần thưởng, danh hiệu cao quý khác.

40 năm xa quê nhưng trong ông, quê hương luôn ở bên và rất gần. Ông bảo: Không chỉ ông mà tất cả những người con quê hương Bắc Giang đều mong muốn quê mình phát triển, giàu đẹp, sung túc. Nhưng làm thế nào để những người Bắc Giang xa quê chụm lại, chung vai giúp sức xây dựng quê hương thì cả ông và nhiều người đều chưa làm gì được nhiều, tỉnh cũng chưa tìm được cách "đón" họ về. Ông mong một ngày, những người con Bắc Giang xa quê sẽ trở về, không chỉ để thăm hỏi, chúc mừng mà là những việc làm cụ thể, hữu ích hơn cho quê hương.

Theo Báo Bắc Giang

Các Tin liên quan